Chim Potoo

Potoo: Những loài chim đẹp một cách ma ám và Vui nhộn

Nếu các bạn biết "đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn", thì chắc các loài chim này đều trợn mắt ra để cho mọi người nhìn thấy được bản chất của chúng: Một loài thợ săn đêm của khu rừng nhiệt đới, một nỗi kinh hoàng cho các loại sâu bọ. Đây là các loài họ chim Potoo.

NƠI ĐỊNH CƯ

Họ chim này chỉ sống ở trong các vùng nhiệt đới ở vùng Trung và Nam Kỹ, đặc biệt là khu rừng rậm Amazon của Brazil. Thế giới này có tổng cộng 7 loài chim Potoo, bao gồm:

ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA POTOO

Tất cả các loài Potoo đều nhỏ, có chiều dài từ đuôi tới mỏ là từ 20 cm đến 58 cm như chim bồ câu. Mặc dù nó nhìn giống như cú, nhưng Potoo (thuộc bộ Nyctibiiformes) không thuộc dòng họ cú (thuộc bộ Strigiformes). Hơn nữa, Potoo không có một bộ phận mà hầu như tất cả loài cú đều có: một cái đĩa mặt hình trái tim làm bằng lông vũ, giúp cú định vị âm thanh tốt hơn.

Loài Potoo đều có những vài bộ phận đã thích nghi nổi bật so với những loài chim khác: Đôi mắt và cái mỏ của nó rất to!

Mỏ của Potoo có thể mở to như một mạng lưới, và ở bên trong có một màu sắc rực rỡ (thông thường là màu hồng), có thể là để thu hút các côn trùng, hoặc là đe dọa kẻ thù. Dù cái mỏ có thể mở to, nhưng nó lại không dài khỏi mặt như mỏ chim bình thường, và trên cái mỏ của nó là một cái "móng" nhọn nhô ra như một cái móc. Mặc dù cái "móc" này có thể được coi là để kiếm ăn và gặm mồi tốt hơn, nhưng chim Potoo không có xé mồi ra, chúng chỉ nuốt chửng thôi.

CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG (VÀ ĐÔI MẮT)

Chim Potoo là loài ăn côn trùng, cho nên là các loài côn trùng ban đêm nào là chúng nó ăn hết, bao gồm bướm đêm, những loài bọ cánh cứng, cào cào châu chấu, mối mọt, và nhiều nữa. Trong những trường hợp hiếm chim Potoo cũng đi săn dơi và chim nhỏ nữa!

Đi tìm mồi trong rừng nhiệt đới đêm tối là điều không dễ dàng. Thông thường những loài săn mồi khác dùng năm giác quan (thị, thính, vị, khứu, xúc), dùng tiếng vang. Chim Potoo sử dụng chính đôi mắt to như banh của mình để có thể nhìn rõ vào những nơi thiếu sáng. Giống như mắt của chó mèo vào ban đêm, đôi mắt của Potoo có thể phản chiếu ánh sáng. Do mắt của chim Potoo to, cho nên cái võng mạc có thể lấy thêm nhiều ánh sáng và nhắm vào mồi tốt. Hơn nữa, Potoo có thể tự động co giãn lỗ đồng tử trong mắt để có thể điều khiển lượng ánh sáng trong mắt và độ sâu tiêu cự. Đây là lý do vì sao Potoo thỉnh thoảng có đôi mắt đen thẵm một cách huyền bí, hay móng mắt vàng chói với đôi chấm đen giống như là có ai đó đột nhập vào phòng tắm của họ.

HÀNH VI TỰ VỆ

Vì chim Potoo rất nhỏ bé nên nó không thể và không muốn tấn công các động vật lớn hơn nó. Cho nên nó sử dụng vài "tuyệt chiêu" ngụy trang để trốn tránh.

Tuyệt chiêu thứ nhất là chúng đứng ở trên một cành cây, ngẩn đầu lên cao, nhắm mắt và giả vờ là một ngọn cành. Một khi đứng im, chúng vẫn có thể quan sát xung quanh bằng một cái khe hở giữa hai mí mắt. Có thể tầm nhìn của chúng không rõ bằng mắt mở, nhưng chúng vẫn có thể thấy thú vật chuyển động và các biến đổi cường độ ánh sáng. Nếu chúng thấy có gì đó đến gần chúng thì chúng sẽ:

  1. Bay đi.

  2. Giả vờ cho cố thêm vào.

  3. Mở banh to mắt ra.

Lựa chọn thứ ba của chúng là một ví dụ sử dụng màu sắc để cảnh báo và xua đuổi kẻ săn mồi, giống như cách ếch nhiệt đới sử dụng màu da mình. Thảo nào chính cặp mắt to của chúng đã gây sợ hãi cho không ít người ngay từ cái nhìn đầu tiên.

Ngoài đôi mắt của chúng thì loài Potoo cũng có thêm một tuyệt chiêu để xây dựng danh tiếng ma quái của họ: chúng có một tiếng kêu gây ám ảnh vang dội suốt đêm. Trong cả 7 loài Potoo, các nhà khoa học đã định vị ít nhất ba loại tiếng khác nhau. Có tin thú vị là loài Northern Potoo (Potoo Bắc) và Common Potoo (Potoo thường) được tách ra làm 2 loài khác nhau bởi vì nó có dáng thể rất giống nhau, và chỉ có thể thấy sự sự khác biệt qua tiếng kêu của nó! (Cả 7 con khác biệt như thế nào, mình sẽ giới thiệu xuống dưới!)

CHĂM CON

Khi chim Potoo không đi săn hoặc là đóng giả thành một ngọn cành, thì chúng có thể đi chăm con của mình.

Cách làm tổ của họ hơi bị... tối giản. Chúng chỉ tìm một chỗ trũng trên cành hoặc ở đầu gốc cây và đẻ một quả trứng trên đó. Một tháng sau, chim non được nở ra. Cả hai cha mẹ đều cùng nhau chăm sóc chim non của mình, để rồi một tháng sau con mình có thể bay đi và làm ma ám cho rừng nhiệt đới một lần nữa.

Đặc điểm riêng của từng loài Potoo

Rufous Potoo (Potoo Đỏ)

Tên khoa học: (Nyctibius bracteatus)

Kích thước: dài 20 cm - 25 cm; nặng 46 g - 58 g.

Nơi sống: Brazil, Colombia, Ecuador, Guyane Pháp, Guyana, Peru.

Mồi: Tất cả các loài côn trùng như bướm, cào cào châu chấu, bọ cánh cứng, dế.

Tình trạng: Ổn.

Đây là loài Potoo nhỏ nhất trong 7 loài. Tên của nó nghĩa là "màu đỏ thô", bởi vì màu lông vũ của nó có màu đỏ như màu sắt bị gỉ hoặc oxy hóa. Cái loại màu này, cộng với những đốm trắng, giúp cho nó ẩn náu trong những khe cành lá và đóng giả thành lá chết. cũng thỉnh thoảng đung đưa giống như lá trong gió!

Tiếng kêu: https://www.xeno-canto.org/species/Nyctibius-bracteatus

Great Potoo (Potoo lớn)

Tên khoa học: (Nyctibius grandis)

Kích thước: dài 46 cm - 58 cm; nặng 360 g - 650 g; sải cánh 71 cm - 81 cm.

Nơi sống: Nhiều nơi từ Trung tới Nam Mỹ.

Mồi: Tất cả các loài côn trùng như bọ, châu chấu, thỉnh thoảng dơi và chim nhỏ

Tình trạng: Ổn.

Trái ngược với Potoo đỏ là loài Potoo to nhất trong 7 loài. Chiều dài sải cánh của nó gần gấp đôi chiều dài của thân nó. So với các loài kia, loài Potoo lớn có nhiều loại màu lông vũ, như trắng, xám, nâu, đỏ tía và đỏ cam.

Tiếng kêu: https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/1/12/Great_Potoo_2007-03-26_2100.ogg

Long-tailed Potoo (Potoo đuôi dài)

Tên khoa học: (Nyctibius aethereus)

Kích thước: dài 46 cm - 51 cm; nặng 280 g - 447 g.

Nơi sống: Cả Nam Mỹ trừ Chile và Uruguay.

Mồi: Tất cả các loài côn trùng.

Tình trạng: Ổn.

Giống như họ hàng của mình, loài Potoo đuôi dài không muốn tiếp xúc với người. Giống như tên, nó có một cái đuôi dài dường như gấp đôi thân thể của mình.

Điều thú vị với loài này là có thêm 3 loài phụ của loài Potoo này, bao gồm nyctibius aethereus aethereus (loài chỉ định đây), nyctibius aethereus chocoensis, and nyctibius aethereus longicaudatus. N. a. longicaudatus nhỏ hơn một chút so với kích thước bình thường, và có màu nâu sậm hơn loài chỉ định. N. a. chocoensis nhỏ hơn longicaudatus như còn nâu hơn nữa.

Thế thôi, cả ba loài phụ này sống như nhau nhưng ở nơi khác nhau.

Tiếng kêu: https://www.xeno-canto.org/species/Nyctibius-aethereus

Northern Potoo (Potoo Bắc)

Tên khoa học: (Nyctibius jamaicensis)

Kích thước: dài 38 cm - 46 cm; nặng 253 g - 257 g.

Nơi sống: Mexico, Costa Rica, Jamaica, đảo Hispaniola (cộng hòa Dominica).

Mồi: Tất cả các loài côn trùng.

Tình trạng: Ổn.

Một loài Potoo lớn, loài Potoo này có tên như vậy bởi vì nó sống ở vùng Trung Mỹ hơn là vùng Nam Mỹ. Giống như là muốn giỡn mặt với loài Potoo đuôi dài, loài Potoo Bắc này có tới 5 loài phụ! Bao gồm: N. j. abbotti (Hispaniola), N. j. jamaicensis (Jamaica), N. j. costaricensis (Costa Rica), N. j. lambi (Tây Mexico) and N. j. mexicanus (Đông và Nam Mexico).

Loài này đã từng được các nhà khoa học coi như là loài phụ của loài Potoo thường vì chúng nhìn rất giống nhau, nhưng mấy ngày nay đã được coi là loài khác nhau bởi vì tiếng kêu của hai loài khác xa nhau.

Tiếng kêu: https://www.xeno-canto.org/species/Nyctibius-jamaicensis

Common Potoo (Potoo Thông thường)

Tên khoa học: (Nyctibius griseus)

Kích thước: dài 36 cm - 41 cm; nặng 160 g - 190 g.

Nơi sống: Trung và Nam Mỹ.

Mồi: Tất cả các loài côn trùng.

Tình trạng: Ổn.

Thường được gọi là poor-me-ones (tội nghiệp tôi), loài Common Potoo này được mệnh danh vì tiếng kêu nghe giống như tiếng than khóc của một ai đó, và nó sống rất rộng rãi khắp cả Trung và Nam Mỹ. Tuy nhiên, nó lại rất khó kiếm giống như họ hàng của nó. Nó có 2 loài phụ: nyctibius griseus griseus (chỉ định) and nyctibius griseus panamensis.

Loài này đã từng được các nhà khoa học coi như là có quan hệ họ hàng của loài Potoo Bắc vì chúng nhìn rất giống nhau, nhưng mấy ngày nay đã được coi là loài khác nhau bởi vì tiếng kêu của hai loài khác xa nhau.

Tiếng kêu: https://xeno-canto.org/species/Nyctibius-griseus

Andean Potoo (Potoo của núi Andes)

Tên khoa học: (Nyctibius maculosus)

Kích thước: dài 33 cm - 38 cm; nặng 145 g - 195 g.

Nơi sống: Dãy núi Andes.

Mồi: Tất cả các loài côn trùng.

Tình trạng: Ổn.

Đây là một trong hai loài Potoo bí ẩn nhất trong tất cả 7 loài. Chúng ta thật sự không biết chúng nó làm tổ và nuôi con như thế nào, ngụy trang làm sao, hay có khác biệt gì so với các loài Potoo khác! Chúng ta chỉ biết ngoại hình của nó: cơ thể màu nâu với bộ lông trông thô ráp và bẩn thỉu với nhiều sắc thái khác nhau như trắng, đen, xám và rám nắng.

Tiếng kêu: https://www.xeno-canto.org/species/Nyctibius-maculosus

White-winged Potoo (Potoo cánh trắng)

Tên khoa học: (Nyctibius leucopterus)

Kích thước: dài 23 cm - 28 cm; nặng 77 g - 85 g.

Nơi sống: Brazil, Guyane Pháp, Guyana, Peru, Suriname, and Venezuela.

Mồi: Tất cả các loài côn trùng.

Tình trạng: Ổn.

Thêm một loài Potoo bí ẩn nữa! Chúng ta chỉ biết ngoại hình của loài này là có lông vũ trắng xáo trên đôi cánh. Có thể loài cánh trắng sống ở Amazon là loài riêng...

Tiếng kêu: https://www.xeno-canto.org/species/Nyctibius-leucopterus